ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC
NHỮNG NHẬN THỨC TỪ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC TÍCH CỰC
Ở BẬC THCS ĐẦU NĂM HỌC2009-2010
Phần 1: PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC TÍCH CỰC.
I. Cơ sở ban đầu: Qua chuyên đề về : “Một số vấn đề về phương pháp dạy học tích cực” của phòng GD-ĐT Đức Phổ ngày 18/10/2009, chúng ta một lần nữa lại khẳng định cùng nhau: “Phương pháp dạy học tích cực là một yêu cầu cấp thiết trong quá trình đổi mới nội dung, chương trình và sách giáo khoa bậc THCS.” Để đạt được những mục tiêu giáo dục bậc THCS, chúng ta phải đồng ý với nhau rằng: “Nếu chưa đồng bộ trong quá trình thực hiện đổi mới phương pháp dạy- học thì chắc chắn mục tiêu giáo dục bậc THCS chưa đạt được một cách toàn vẹn, đầy đủ nhất.” Nhưng nếu chờ đến sự đồng bộ về nhiều phương diện: Từ cơ sở vật chất như bàn ghế, phòng học, phòng bộ môn, phòng thiết bị, các phương tiện đồ dùng, thiết bị dạy học, kể cả sự điều chỉnh chương trình,sách giáo khoa và từ đó giáo viên triệt để vân dụng phương pháp dạy học tích cực thì đến bao giờ chúng ta mới thực hiện hoàn hảo phương pháp dạy học này.
Xuất phát từ quan điểm ấy, chúng tôi đã dự giờ ở tất cả các khối lớp (6 9) và tất cả các bộ môn từ bộ môn xã hội đến tự nhiên, từ các bộ môn khoa học đến các môn nghệ thuật như: nhạc, mĩ thuật…
\ Từ đó, chúng tôi rút ra một số kết luận có tính riêng, nhằm các bạn đồng nghiệp thao khảo, góp ý và cũng từ đây chúng ta mạnh dạn vận dụng phương pháp này một cách khả thi trong điều kiện đang có…và đừng chờ đến khi có đủ điều kiện mới vận dụng, và hiện tại tuy còn nhiều khó khăn, thách thức.
II. Một số quan niệm chung về dạy học tích cực:
1. Phương pháp dạy học là gì?
- Phương pháp dạy học là những cách thức, thông qua đó và bằng cách đó, giáo viên và học sinh lĩnh hội những hiện thực tự nhiên và xã hội xung quanh trong những điều kiện cụ thể.
2. Phương pháp dạy học tích cực là gì?
-Phương pháp dạy học tích cực là phương pháp giáo dục, dạy học theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của người học. Phương pháp dạy học tích cực hướng tới việc hoạt động hoá, tích cực hoá hoạt động nhận thức của người học
III. Các dấu hiệu đặc trưng của Phương pháp dạy học tích cực: 4 dấu hiệu đặc trưng sau đây:
1, Dạy và học thông qua tổ chức hoạt động học tập của học sinh
2, Dạy và học chú trọng rèn luyện phương pháp tự học.
3, Tăng cường học tập cá thể, phối hợp với học tập hợp tác.
4, Kết hợp đánh giá của thầy với tự đánh giá của trò
Mỗi tiết dạy - học, giáo viên cần suy nghĩ thiết kế bài dạy- học theo dấu hiệu đặc trưng và việc đánh giá tiết dạy cụng dựa theo những đâu hiệu này.
IV. Phương pháp dạy học tích cực:
1, Các phương pháp dạy học tích cực thừơng dùng ở các trường THCS:
- Các phương pháp dạy học dùng ngôn ngữ: Phương pháp thuyết trình, Phương pháp phát vấn, phương pháp sử dụng sách giáo khoa.
-Nhóm phương pháp dạy học trực quan: Dụng cụ, hình ảnh, thực tế…
-Các phương pháp thực hành
- Phương pháp thực hành thí nghiệm
2, Một số phương pháp dạy học tích cực cần phát triển ở bậc THCS:
- Phương pháp vấn đáp
- Phương pháp đặt và giải quyết vấn đề
- Phương pháp hoạt động nhóm
- Phương pháp đóng vai
- Phương pháp động não
- Phương pháp tình huống
- Phương pháp trò chơi
- Phương pháp xem tranh ảnh, video
2.1,Phương pháp vấn đáp:
+ Vấn đáp tái hiện : Học sinh nhớ lại kiến thức đã có
+ Vấn đáp giải thích- minh hoạ: Giải thích minh hoạ làm sáng tỏ một vấn đề
+ Vấn đáp tìm tòi: Hệ thống câu hỏi được sắp xếp hợp lí để hướng học sinh từng bước nắm được kiến thức
2.2,Phương pháp đặt và giải quyết vấn đề:
- Mức độ 1: Giáo viên đặt vấn đề, gợi ý để học sinh tìm cách giải quyết vấn đề.
- Mức độ 2: Giáo viên nêu vấn đề, gợi ý để học sinh tìm ra cách giải quyết vấn đề
- Mức độ 3: Giáo viên cung cấp thông tin tạo tình huống có vấn đề. Học sinh pohát hiện và xác định vấn đề nảy sinh tự đề xuất các giả thiết và lựa chọn giải pháp
- Mức độ 4: Học sinh tự lực phát hiện vấn đề nảy sinh trong hoàn cảnh của mình (ẩn)
2.3,Phương pháp hoạt động nhóm: Có thể tiến hành
- Làm việc chung cả lớp
- Làm việc theo nhóm
- Tổng kết trước lớp
* Cần lưu ý khi thực hiện phương pháp hoạt động nhóm: Chia nhóm. Giao nhiệm vụ cho các nhóm – Quy định thời gian thảo luận - Đại diện nhóm trình bày ý kiến – Giáo viên tổng kết(có thể cho nhóm khác hoặc cho học sinh bổ sung trước)
2.4,Phương pháp động não:
- Phương pháp này giúp học sinh nảy sinh được nhiều ý tưởng, nhiều giả định trong thời gian ngắn
- Cách thức tiến hành phương pháp động não: Giáo viên nêu câu hỏi, vấn đề trước cả lớp- hoặc trước nhóm, khích lệ học sinh phát biểu(GV liệt kê tất cả các ý kiến)
2.5,Phương pháp sử dụng tranh ảnh:
- Sử dụng tranh ảnh, phim…để khai thác hoặc minh hoạ cho kiến thức cần học tập
- Cách tiến hành phương pháp sử dụng tranh ảnh: cho xem tranh ảnh, video…đưa ra câu hỏi để học sinh suy nghĩ, phát biểu và thảo luận.
3. Điều kiện để áp dụng phương pháp dạy học tích cực ở trường THCS hiện nay:
a,Giáo viên: có kiến thức chuyên môn sâu , rộng, có trình độ sư phạm lành nghề, có trình độ để thiết kế bài dạy, tổ chức cho học sinh tham gia hoạt động học tập. GV còn phải có ứng xử nhanh nhạy với những tình huống sư phạm xãy ra trong tiết dạy . Giáo viên phải biết ứng dụng công nghệ thong tin vào việc dạy học – GV biết định hướng phát triển học sinh theo mục tiêu giáo dục; đồng thời cũng đảm bảo sự tự do của học sinh trong hoạt động nhận thức.
b, Học sinh: Phải rèn luyện cách tự học, tự đọc và tranh thủ học mọi nơi, mọi lúc, làm bài tập kiến thức đã học, chuẩn bị những kiến thức cho bài mới , soạn bài, làm bài tập đầy đủ trước khi đến lớp. Rèn luyện kĩ năng trình bày một vấn đề , có thắc mắc nêu câu hỏi phần chưa hiểu, rèn luyện tư duy hình tượng, tư duy kĩ thuật, tư duy kinh tế. Biết tự hỏỉ cách áp dụng kiến thức đang học với cuộc sống, với môi trường, với việc phát triển nông nghiệp,công nghiệp, dịch vụ…của đất nước.
c, Chương trình và sách giáo khoa: Phải giảm bớt khối lượng kiến thức, tạo điều kiện cho thầy- trò tổ chức những hoạt động học tập tích cực (có thể giảm bớt khối lượng kiến thức hoặc tăng tiết cho nhưng bài học có kiến thức phức tạp, đa dạng- để giáo viên có áp dụng các biện pháp dạy -học, các hoạt động học tập tích cực)
d, Thiết bị dạy học: Đầy đủ về số lượng, đảm bảo về chất lượng thì chất lượng dạy học mới đáp ứng được mục tiêu giáo dục của bậc học THCS. Giáo án điện tử và máy tính xách tay cần được trang bị mới thực hiện trọn vẹn phương pháp dạy học tích cực và giáo viên thực sự nhuần nhuyễn trong thao tác dạy học ứng dụng công nghệ thông tin.
PHẦN II.Thực tế dạy học ở trường và những vấn đề được và chưa được- đạt và chưa đạt trong phương pháp dạy học tích cực
* Trước hết, với tiết toán học lớp 9 với đề bài: “Hình chữ nhật”, thầy Nguyễn Xuân Trí Huệ đi qua 4 phần: Định nghĩa- Tính chất- Dấu hiệu nhận biết- áp dụng vào tam giác vuông.
Trên một bảng phụ, thầy Trí Huệ đã vẻ 4 hình: Hình thang cân, hình bình hành, hình chữ nhật và hình vuông từ đó thầy cho học sinh nhận xét rồi phát biểu định nghĩa về hình chữ nhật. Từ so sánh, đối chiếu, tái hiện lại kiến thức đã học mà các em lần lượt nêu phần định nghĩa từ hình thang cân có một góc vuông và hình bình hành có một góc vuông. Cũng từ đó thầy hướng dẫn cho học sinh kết luận về tính chất của hình chữ nhật- từ tính chất của hình thang cân, hình bình hành. Mỗi học sinh phát biểu chưa chính xác thầy đã cho học sinh khác bổ sung và cuối cùng thầy kết luận . Sang phần “Dấu hiệu nhận biết tính chất”, thầy lật ngược vấn đề để học sinh suy luận 1 tứ giác chắc chắn là hình chữ nhật thì có đủ các điều kiện nào: Tứ giác có 3 góc vuông, hình thang cân có 1 góc vuông, HBH có 1 góc vuông, HBH có 2 đường chéo bằng nhau. Trong mỗi dấu hiệu, thầy đều cho học sinh nhìn vào hình vẽ và những câu hỏi gợi từ kiến thức đã học về tứ giác, về hình thang, HBH…Trong phần cuối của bài: Áp dụng vào tam giác vuông để xác định đặc điểm trung tuyến ứng với cạch huyền, thầy đã hướng dẫn học sinh chứng minh bằng phương pháp qui nạp.
Như vậy các phương pháp vấn đáp, tái hiện, thảo luận nhóm, đặt vấn đề và hướng dẫn học sinh tìm ra các định nghĩa, tính chất, dấu hiệu nhận biết, áp dụng vào tam giác vuông…Phương pháp dạy học tích cực được áp dụng khá linh hoạt chỉ tiếc rằng, thời gian quá ngắn (45ph) để học sinh thực hiện một số bài tập áp dụng để có kỹ năng chứng minh những điều thầy hướng dẫn hoặc nâng cao bằng những bài tập mở rộng.
* Tiết dạy thật hấp dẫn với phần dạy học tiếng Anh ở lớp 8 của cô Bùi Thị Thuận. Các tổ thi nhau viết tên các câu chuyện cổ dân gian trong kho tàng dân gian ViệtNam. Tiếc rằng cô chưa cho học sinh tìm hiểu tên các câu chuyện đó bằng tiếng Anh để các em tìm tòi học hỏi (Folk tales). Một tràng pháo tay cho người chiến thắng tạo nên khí thế hoà hứng mở đầu tiết học. Phần hướng dẫn tìm từ mới, đọc và hướng dẫn tìm hiểu nghĩa được cô hướng dẫn cho cả lớp cùng tham gia và kết thúc lại bài 2 nhóm thi đua nhận biết từ vừa học, và lại tràng pháo tay tán thưởng nhóm chiến thắng
- Một câu chuyện cổ tích với 8 bức tranh cô đặt lộn xộn trình tự để học sinh suy nghĩ và sắp xếp. Tiếp đó giáo viên kể câu chuyện và học sinh điều chỉnh trình tự các bức tranh cho đúng trình tự như lời kể. Thế là học sinh vừa suy nghĩ vừa hành động và sau đó là điều chỉnh cho phù hợp. Cả lớp cùng thực hiện nhưng có lẽ một số học sinh khá giỏi là tham gia, những học sinh trung bình và yếu ít có cơ hội.
- Những bức tranh minh hoạ khá sinh động nhưng màu sắc còn chưa phù hợp vớí thiên nhiên, loài vật: “ Con hổ”, “con trâu” trong câu chuyện cổ tích khá hấp dẫn này.
Một bài tập điền khuyết các từ trong câu chuyện trên. Các động từ điền phù hợp với các chổ trống cũng được các nhóm thi đua thực hiện. Sau đó, cô giáo đặt câu hỏi để học sinh trả lời theo nội dung , ý nghĩa câu chuyện. Phần nâng cao, một học sinh đã kể lại câu chuyện theo trình tự các bức tranh còn treo trên bảng. Trọng tâm của bài là học sinh viết tóm tắt câu chuyện, giáo viên kiểm tra, đánh giá, nhận xét. Như thế là vừa học, vừa chơi, giáo viên đã vận dụng nhiều phương pháp: đàm thoại, vấn đáp, nêu vấn đề, thảo luận nhóm, thực hành nâng cao. Chú trọng đến các dấu hiệu đặc trưng của nhóm phương pháp dạy học tích cực. Học sinh chủ động để tiếp thu kiến thức. Tiếc rằng, khả năng tiếp thu của học sinh trong lớp chưa đồng đều nên học sinh trung bình, yếu sẻ rất vất vả, đuối sức trước yêu cầu của giáo viên. Vậy thì nguyên nhân nào, có phải chăng do điều kiện học tập còn thiếu, do nhận thức và động cơ học tập của các em chưa đúng nên nhiều tiết học trước đây các em đã không tiếp thu được kiến thức và tiết học này lịa rất khó tiếp thu. Tổ chức tiết học để học sinh hoạt động, thảo luận, phát biểu, nhận thức. Giáo viên đánh giá hoạt động và phát biểu của học sinh và học sinh cũng tự đánh giá lẫn nhau trong quá trình tiếp thu kiến thức
* Cô Huỳnh Thị Lan, giáo viên đã nhiều năm đạt giáo viên dạy giỏi cấp huyện, cấp tỉnh là tổ trưởng chuyên môn của trường, với tiết dạy Anh văn lớp 7:B1+B2của Unit4 đã thực hiện những yêu cầu dạy học theo phương pháp dạy học tích cực.
Việc chuẩn bị cũng khá công phu với các hình vẽ thật sinh động – là những dụng cụ trực quan đã tạo nên một ấn tượng đối với học sinh. Mỗi từ mới được hình thành đều có sự tập trung của từng thành viên trong lớp: Hình thành từ mới- đọc- ghi lên bảng: Library, librarian, rack, reader, …sau đó cả lớp cùng đọc đồng thanh để cũng cố thêm trí nhớ về các từ. Cô giáo lần lượt xoá các từ tiếng Anh và cho học sinh đọc lại các từ đã xoá. Giáo viên cũng cố ngay phần này bằng cách gọi học sinh tự nguyện viết lại các từ đã xoá. Các tổ lại có dịp thi đua sôi nổi. Tất nhiên, niềm vui dành cho người chiến thắng. Liệu các em ở trình độ yếu và trung bình có cơ hội để tham gia trò chơi này không. Đó là điều mà mỗi giáo viên tiếng Anh cần suy nghĩ và tổ chức thi đua dành cho học sinh có năng lực thấp hơn.
-Bước tiếp theo, giáo viên phát phiếu học tập và hướng dẫn học sinh các tổ nhóm thảo luận về các loại sách “on the left” và “on the right”, về các loại sách trên giá đỡ, về giờ mở và đóng cửa thư viện. Không khí tiết học trở nên sôi nổi và những học sinh được chọn lựa trả lời không phải chỉ là những học sinh khá giỏi mà cả tập thể cùng tham gia. Học sinh đại diện các tổ đọc từng câu trả lời cho cô giáo ghi lên bảng (4tổ)- Từ đó học sinh lật sách giáo khoa và kiểm tra lại kết quả này- Giáo viên hướng dẫn các em cùng sửa chữa những sai sót trong từng câu trả lời. Cả lớp lắng nghe và đọc lại theo giọng đọc của giáo viên. Hoạt động trong từng đôi bạn được cô giáo sắp xếp để các em hỏi và trả lời trong 7 câu hỏi và 2 tổ lại có dịp thi đua trả lời. Mỗi câu đúng được cộng điểm 10 và mỗi câu trả lời sai lại bị trừ điểm số. Phần cũng cố bài học, giáo viên chủ động đặt những câu hỏi trong nội dung bài học về thư viện, vị trí của những loại sách trên giá, các loại sách, báo, tạp chí và học sinh tham gia sôi nổi, tạo ra khí thế học tập khá hào hứng, sôi nổi. Hướng dẫn học sinh học tập ở nhà cũng khá cẩn thận và chu đáo trong từng phần bài tập.
Như vậy, tiết dạy đã được giáo viên thiết kế khá công phu, vừa vui chơi vừa thi đua trong từng hoạt động học tập. Cá nhân và tập thể luôn hoạt động hài hoà và luôn lôi cuốn các em cùng tham gia. Không để cho học sinh bị động, mỗi hoạt động được giáo viên hướng dẫn, mỗi trò chơi được giáo viên nêu thể lệ cho nên học sinh tham gia vào trò chơi để học từ mới, luyện đọc, luyện viết và nâng cao thêm khả năng đặt câu hỏi, trả lời và biết điều chỉnh các sai sót của bạn, biết cách hoạt động theo nhóm, theo từng đôi bạn trong đàm thoại và mức độ hiểu bài của các thành viên trong lớp.
*Đến với tiết dạy của cô Nguyễn Thị Hồng Hà ở lớp 9C về bài “Tổng kết về từ vựng”(tt), chúng ta lại nhận ra một điều khá lý thú về những phương pháp dạy học tích cực trong môn “Tiếng Việt”
Sau khi kiểm tra bài cũ, giáo viên đã chia bảng làm 4 phần đều nhau. Từ đồng âm, từ đồng nghĩa, từ trái nghĩa- Trường từ vựng, sau đó giáo viên cho 4 bảng phụ và 4 bút dạ xanh cho 4 tổ cùng thảo luận và cử 1 học sinh thay mặt tổ ghi vào bảng phụ. Khi 4 tổ hoàn thành và đem bảng phụ của mình treo lên bảng đen, các học sinh khác nhận xét, bổ sung những sai sót và đặc biệt bổ sung vào các từ trong cùng trường từ vựng. Đây là những kiến thức các em đã được học, các bài tập đã được luyện. Do đó bài tổng kết là dịp để học sinh so sánh, đối chiếu với bài tập tổng hợp, bài tập sáng tạo thì sẽ góp phần làm cho các em thấy được sự phong phú về từ ngữ, đa dạng về ngữ nghĩa và cách diễn đạt của tiếng Việt.
Qua tiết dạy, giáo viên đã tổ chức cho học sinh tham gia thảo luận về khái niệm, chọn lựa các ví dụ minh hoạ về bổ sung, nhận xét câu trả lời của tổ, nhóm khác dưới sự gợi ý của giáo viên để học sinh cũng cố lại kiến thức đã học. Chỉ tiếc rằng trong phần vận dụng, nếu học sinh thử viết một đoạn văn có vận dụng từ đồng nghĩa, từ trái nghĩa, từ đồng âm…Tất nhiên mỗi tổ nhóm được phân công một nội dung để các em có bài tập sáng tạo. Và sau đó, giáo viên chọn một số đoạn văn có chất lượng tốt, đọc lại trước tập thể để các em trong lớp lắng nghe và học tập. Nếu được như thế, các em sẽ cảm thấy hào hứng và tiết dạy đạt hiệu quả cao hơn.
* Chúng ta lại đến thăm lớp 6A4 trong tiết dạy ngữ văn của Cô Huỳnh Thị Bé với bài “Ông lão đánh cá và con cá vàng - Truyện cổ dân gian Nga”. Sau khi kiểm tra về ý nghĩa qua câu chuyện “Mã Lương với cây bút thần” cô giáo đã đưa ra một bức tranh khá đẹp về cảnh biển cả, chiếc thuyền, ông lão và cá vàng…cô giáo đặt câu hỏi: “Bức tranh nói lên nội dung gì? Và truyện có những nhân vật nào?” khi nhận được các câu trả lời chính xác, đầy đủ, cô giáo lại cho học sinh đọc phân vai: người dẫn truyện, Ông Lão, Mụ Vợ, Cá Vàng…các em đọc khá tốt, diễn cảm và thể hiện rỏ tình cảm từng nhân vật qua đối thoại. Đó là một ưu điểm mà giáo viên ngữ văn nên thận trọng chọn các học sinh đọc phân vai nhân vật trong tác phẩm….Nó góp phần không nhỏ cho việc thành công của tiết dạy thông qua những học sinh với giọng đọc thể hiện rõ tư tưởng, tình cảm nhân vật trong tác phẩm ấy.
Sau khi nhận xét về các giọng đọc, cô giáo đã hướng dẫn học sinh về xuất xứ, chú thích. Đây là chuyện cổ dân gian nên có một số từ cổ cần cho học sinh giải thích để học sinh một lần hiểu nghĩa từ và có thể vận dụng từ để kể lại, thuật lại như suy nghĩ cảm xúc của mình, giáo viên không nên xem nhẹ phần chú thích: “Nữ hoàng” “Đệ nhất phẩm phu nhân” “Long vương”, “thị vệ”…
Phần tìm hiểu bài giáo viên chia làm 2 ý “ Việc đòi hỏi của mụ vợ và sự thay đổi của biển” “Ông lão đánh cá”. Giáo viên hướng dẫn học sinh tìm hiểu số lần ông lão đi ra biển cả. Cứ đòi hỏi của mụ vợ tăng lên thì sự thay đổi của biển cũng tăng lên từ “Biển gợn sóng êm ả” đến “Biển nổi sóng”, “Biển nổi sóng dữ dội”, “Biển nổi sóng mù mịt” đến hình ảnh “Cơn dông tố kinh khủng”. Học sinh đã dể dàng trả lời những câu hỏi theo chủ định của giáo viên để rồi hàng loạt các thành ngữ do học sinh nêu ra để bình phẩm bản chất của mụ vợ: “Được đằng chân, lân đằng đầu”, “Được voi đòi tiên”, “Tham thì thâm”…Và cuối cùng học sinh đã khẳng định “Mụ vợ là người tham lam, bội bạc và độc ác”
Đến lượt tìm hiểu về ông Lão đánh cá, học sinh đã nhận rõ Ông Lão tốt bụng, nhân hậu. Tuy nhiên, cũng có em cho rằng ông Lão nhu nhược. Dĩ nhiên, các em tự do nhận xét, đánh giá nhưng giáo viên điều chỉnh những gì các em phát biểu chưa chuẩn xác hoặc cách dùng từ chưa trong sáng nhằm mục đích giúp các em phát biểu về ý nghĩa câu chuyện, về tính cách nhân vật.
Trong tiết học này, giáo viên đã vận dụng khá nhiều phương pháp, trong đó khả năng tái hiện, nhận xét, đánh giá về tính cách từng nhân vật. Các em được thảo luận theo nhóm và đại diện nhóm trả lời từng vấn đề mà giáo viên nêu ra thì chắc chắn tiết dạy linh hoạt hơn. Mỗi tổ nhóm đưa mình vào vị trí một nhân vật và nếu mình là Mụ Vợ, là Ông Lão, là Cá Vàng, mình sẽ hành động ra sao? Mỗi nhóm suy nghĩ về hành động của mình cho phù hợp với giá trị đạo đức ….Dĩ nhiên, mỗi nhân vật có cách hành động riêng, khác với nhân vật trong tác phẩm để rồi mụ vợ kí không phải là người độc ác, ông Lão đánh cá không phải là người nhu nhược và con Cá Vàng cũng không phải là con vật cuối cùng chỉ cho vợ chồng Ông Lão một chiếc lều rách nát và chiếc máng lợn sứt mẻ.
* Đến với tiết sinh vật của cô Nguyễn Thị Quế Trâm mới thấy hết những khó khăn của giáo viên khi phải dạy học theo nhóm phương pháp tích cực. Bài ôn tập: “Đại cương về thế giới thực vật”- Sau khi kiểm tra bài cũ, cô đã đi ngay vào chương I: Tế bào thực vật, chương II:Rễ, chương III: Thân cây. Với những kiến thức đã được học, giáo viên hướng dẫn học sinh mô tả từng bộ phận của tế bào thực vật, sự lớn lên, sự phân chia của tế bào.…với một hình vẽ khá đẹp trong bộ đồ dùng dạy học sinh vật 6. Học sinh nắm khá vững kiến thức đã học nên việc trình bày của các em về hình dạng, cấu tạo của tế bào cũng rất rành mạch, rõ ràng, chính xác. Đến chương II:Rễ cọc, rễ chùm với mô hình rễ khá đẹp được học sinh quan sát lại và mô tả, những rễ cọc, rễ chùm được giáo viên giới thiệu bằng rễ thật thì dễ hiểu và mô hình về rễ lát cắt ngang thì học sinh lại càng dễ tiếp thu hơn. Chương III: Thân cây với cấu tạo bằng một lát cắt ngang với từng bộ phận: Biểu bì, vỏ thân, mạch gỗ, mạch rây, ruột, trụ giữa…được giáo viên hướng dẫn và học sinh củng cố lại kiến thức
-Trong phần củng cố kiến thức, học sinh có dịp so sánh cấu tạo của các bộ phận của thân và rễ, những điểm khác nhau, và những điểm giống nhau trong hai lát cắt ngang thân và rễ. Và cũng trong tiết học này học sinh vừa ôn kiến thức cũ, vừa có dịp so sánh cấu tạo, chức năng giữa các bộ phận thân, rễ…Những kiến thức cơ bản này sẽ giúp cho các em có cơ sở để học tập cao hơn và vận dụng kiến thức trong vấn đề trồng trọt, chăm sóc các loại cây trồng theo từng đặc điểm loại cây rễ cọc, rễ chùm, loại thân thảo, thân mộc…Các em thảo luận, phát biểu xây dựng bài ôn tập. Giáo viên biết kết hợp tranh ảnh với mẫu vật cùng với cách sắp xếp, bố trí từng phần của tiết dạy nên việc dạy- học khá hợp lý- Tuy nhiên khối lượng kiến thức khá nhiều trong một tiết dạy nên giáo viên chỉ cần có những câu hỏi gợi ý để học sinh thảo luận trả lời- phần ghi chép nên gọn hơn để đảm bảo thời lượng 45ph của tiết học.
* Đến với môn lịch sử 7A4 của thầy giáo Lê Văn Sáu với bài “Cuộc kháng chiến chống quân xâm lược Tống”(tt), chúng ta sẽ nhận rõ việc thiết kế bài dạy theo hướng tích cực hoá hoạt động của học sinh trong suốt quá trình dạy- học
- Giai đoạn thứ 2 (1076-1077): “Cuộc kháng chiến bùng nổ”- được giáo viên giao cho 4 tổ- Tổ 1: Nêu việc chuẩn bị của Tống; tổ 2: Việc chuẩn bị của ta; tổ 3: Diễn biến giai đoạn đầu; tổ 4: Diễn biến giai đoạn cuối.
- Sau 5 phút thảo luận và ghi chép, tổ 1 được cử lên trình bày việc chuẩn bị của Tống và tổ 2 trình bày việc chuẩn bị của quân dân nhà Lý (địch và ta)- ký hiệu trên bản đồ: “Mũi tên xanh” quân ta; “Mũi tên đỏ” quân Tống. Học sinh bổ sung từng nội dung của các tổ về sự chuẩn bị của ta và địch, và cuối cùng giáo viên kết luận.
- Phần diễn biến trận đánh, giáo viên hướng dẫn học sinh thuật lại về phòng tuyến trên sông Như Nguyệt về địa thế, về kế sách rút lui của Lý Thường Kiệt…Quân ta chọn thời cơ…và bài thơ thần “Nam quôc Sơn Hà” đã cổ vũ tinh thần chiến đấu của quân dân được xem như bản “tuyên ngôn độc lập” đầu tiên của dân tộc. “Nam Quốc Sơn HàNamđế cư” vang lên như lời khẳng định: “NướcNamlà của vuaNam”là đất nước của dânNam, đất nước có chủ quyền, định phận do “Sách trời”, kẻ nào xâm phạm đến sẽ bị đánh tơi bời…
Trận đánh ở phòng tuyến sông Cầu được giáo viên diễn tả thật hào hùng, oanh liệt với trí tuệ, tài điều binh khiển tướng của Lý Thường Kiệt cùng tinh thần chiến đấu không sợ hi sinh của các chiến sỹ đã lập nên chiến công vẻ vang trong cuộc đấu tranh chống ngoại xâm, dành độc lập cho dân tộc ta thời Lý.
- Phần kết thúc, giáo viên hướng dẫn học sinh tìm hiểu vì sao Lý Thường Kiệt lại chủ trương giảng hoà để cho quân Tống rút quân về nước. Bài học lịch sử dường như đã được lặp lại nhiều lần: tinh thần nhân đạo của quân dân ta, sự hoà hiếu giữa hai nước, cũng là kế sách lâu dài của một dân tộc yêu chuộng hoà bình…để gìn giữ cuộc sống thanh bình, ấm no, hạnh phúc cho nhân dân và độc lập tự do cho đất nước.
- Qua tiết dạy giáo viên đã thiết kế cho học sinh hoạt động học tập từ các sự kiện lịch sử, nguyên nhân, ý nghĩa của chiến thắng và tinh thần nhân đạo tấm lòng hoà hiếu của của dân tộc Đại Việt ta. Việc thảo luận nhóm, đánh giá nhận xét từng nội dung trình bày của các tổ, bổ sung ý kiến của các bạn…và giáo viên luôn chủ động kết luận qua các thông tin từ học sinh. Nếu có đủ phương tiện, được thiết kế trên một tiết giảng bằng giáo án điện tử chắc chắn học sinh sẽ được tham gia ý kiến nhiều hơn và cũng từ đó học sinh có thể trình bày lại diễn biến trận đánh thắng quân xâm lược Tống giai đoạn thứ hai này. (Mỗi tổ được lên trình bày theo khả năng của mình).
* Với môn địa lý 9, thấy Huỳnh Tấn Linh đã tạo tình huống cho học sinh cả lớp bằng cách cho các em vẽ lại các biểu đồ hình tròn, biểu đồ cột chồng, cột nhóm…với những số liệu thống kê đơn giản, độ phức tạp giữa các chỉ số không cao.
- Từ số liệu tổng thu nhập của năm 1991, với tổng thu nhập GDP trong nền kinh tế quốc dân với tỉ trọng giữa nông, lâm, ngư nghiệp với công nghiệp, xây dựng và dịch vụ, học sinh có thể vẽ biểu đồ hình tròn, hình cột chồng…để phân tích khá dễ dàng về cơ cấu nền kinh tế phát triển qua từng giai đoạn của đất nước.
- Trên cơ sở đó, thầy giáo giúp các em nắm cơ cấu nền kinh tế trải qua nhiều năm 1991,1993,1995,1997….Các em chọn loại biểu đồ nào cho phù hợp. Từ đó, học sinh suy nghĩ - Mỗi em có một cách thể hiện cách vẽ biểu đồ của mình như biểu đồ hình cột chồng, hình cột nhóm…cũng trên trục toạ độ….Các tổ thi nhau lên vẽ và trình bày cách vẽ riêng của từng tổ. Các học sinh khác, các tổ khác phát biểu ý kiến bổ sung và giáo viên kết luận.
- Cuối cùng, giáo viên giới thiệu ra cách vẽ “Biểu đồ miền”- có lợi thế cho các em so sánh các khoảng thời gian khác nhau với nhiều dữ liệu. Và giáo viên hướng dẫn các em cách vẽ (Thực hành cá nhân). Phần thực hành, giáo viên cho cả lớp cùng vẽ. Giáo viên chọn biểu đồ vẽ đẹp rõ ràng để phân tích và biểu dương. Việc phân tích biểu đồ để đánh giá mức phát triển của đất nước, các ngành nghề…và giáo viên kết luận: “Vẽ biểu đồ về sự thay đổi cơ cấu nền kinh tế” ta phải chọn cách vẽ biểu đồ miền thì mới dễ dàng phân tích mức độ phát triển nền kinh tế đất nước.
- Phương pháp làm việc theo nhóm được giáo viên vận dụng khá phù hợp. Từ những kiến thức đã biết, giáo viên hướng học sinh đến những điều cần biết qua loại biểu đồ đã học và biểu đồ sẽ học. Giáo viên đã cho học sinh nhận định từng loại biểu đồ và thấy rõ sự cần thiết của biểu đồ miền trong quá trình phân tích cơ cấu nền kinh tế quốc dân qua nhiều giai đoạn. Giáo viên biết tích hợp giữa kiến thức xã hội và bộ môn địa lý. Nếu tìm hiểu cơ cấu nông lâm ngư nghiệp ở Đức Phổ, Quảng Ngãi so với công nghiệp xây dựng và dịch vụ trong giai đoạn từ 1991 đến nay thì chắc chắn học sinh sẽ vẽ được biểu đồ miền để phân tích. (Nền kinh tế đất nước ta phát triển, trong tổng thu nhập nền kinh tế quốc dân, nếu tỉ trọng nông nghiệp giảm và tỉ trọng công nghiệp, xây dựng và dịch vụ tăng.)
* Dự giờ tiếng Việt của cô Lê Thị Bạch Tuyết ở lớp 6A1, chúng ta mới hiểu thêm một điều: “Môn học này đã sử dụng phương pháp tích cực hoá hoạt động của học sinh từ nhiều năm nay” với hệ thống ví dụ cụ thể, giáo viên hướng dẫn học sinh tìm hiểu đặc điểm của “Danh từ”, từ đó học sinh lại được dẫn dắt đến kết luận về chức vụ ngữ pháp của danh từ: “Chủ ngữ” và “Vị ngữ” trong câu với ví dụ đơn giản.
“Nhân dân là bể, văn nghệ là thuyền” (Tố Hữu)
-Giáo viên đã hướng dẫn các em tìm hiểu về chức vụ ngữ pháp của danh từ trong câu. Trên cơ sở đặc điểm và chức vụ của danh từ, giáo viên đã hướng dẫn các em luyện tập.
-Cũng từ bảng phụ với những ví dụ được giáo viên hướng dẫn để các em phân loại: Danh từ chỉ đơn vị và danh từ chỉ sự vật. Giáo viên sử dụng phương pháp vấn đáp, gợi mở và đặt vấn đề để đi đến kết luận, giáo viên tạo điều kiện để các em học sinh khác bổ sung và cuối cùng giáo viên kết luận. Tuy việc đọc - chép và chép-chép vẫn diễn ra trong quá trình dạy học nhưng giáo viên cũng đã vận dụng khá nhiều các biện pháp để học sinh tham gia phát biểu ý kiến, bổ sung cho nhau, nhận xét và kết luận của giáo viên là phần cuối của mỗi vấn đề đặt ra trong bài học.
-Đối với môn sinh vật 8 của cô Huỳnh Thị Kim Anh ở lớp 8B, chúng ta càng rỏ hơn những khó khăn vất vả của giáo viên khi phải thực hiện những phương pháp dạy học tích cực. Bài học “Tim và mạch máu” đã được giáo viên thiết kế khá tỉ mỉ công phu. Sau phần kiểm tra bài củ, giáo viên đã đưa ra một bức tranh một mô hình Tim để các em quan sát. Phần thứ nhất “Cấu tạo tim” được giáo viên chia làm 2 nhóm quan sát: “Cấu tạo ngoài của tim” và “Cấu tạo trong của tim” học sinh đã nhận ra “ Cấu tạo ngoài” khá dể dàng nhưng “Cấu tạo trong của tim” thì thật là khó. Từ đó giáo viên đã lấy ra từ túi đồ dùng một quả tim heo còn tươi nguyên và những cấu tạo từ bên trong được giáo viên hướng dẫn học sinh xem: Tâm thất trái, tâm nhĩ phải với các bộ phận: Động mạch phổi, tĩnh mạch phổi, động mạch chủ, tĩnh mạch chủ. Được giáo viên hướng dẫn học sinh nêu cấu tạo đặc điểm của từng bộ phận tâm nhĩ phải, tâm thất trái,động mạch, tỉnh mạch phổi, động mạch, tĩnh mạch chủ. Phần này học sinh hơi lúng túng, nên giáo viên chủ động giải thích và học sinh ghi vào vở. Tất nhiên, cũng có một số phát biểu của các em chính xác nhưng chưa nhiều vỳ việc chuẩn bị bài của các em chưa đồng đều.
Phần kết luận chính của giáo viên qua ý kiến của học sinh “Tim được cấu tạo bởi các cơ tim và mô liên kết
Sang phần thứ hai: “Cấu tạo của mạch máu” giáo viên cho học sinh thảo luận nhóm:Động mạch, tĩnh mạch, mô mạch và các vòng tuần hoàn lớn- vòng tuần hoàn nhỏ. Vừa mô tả, học sinh được giáo viên hướng dẫn tìm hiểu sự khác biệt giữa 3loại mạch máu đã nêu trên. Các nhóm trình bày học sinh nhóm khác bổ sung và giáo viên kết luận.
- Phương pháp dạy học tích cực đã được vận dụng khá linh hoạt nhưng cũng mất khá nhiều thời gian. Những nhóm phát biểu chưa chính xác càng mất nhiều thời gian hơn vỳ giáo viên phải giải thích ý chưa đúng.
- Phần cuối của bài dạy “Chukỳ co dãn của tim”.với chu kỳ 3 pha: Pha nhĩ co, pha dẫn chung. Với chế độ làm việc và nghĩ ngơi của các pha đã khiến cho tim làm việc cả đời không biết mệt mỏi.
- Không thể yêu cầu gì hơn ở giáo viên bộ môn khi khối lượng kiến thức chỉ trong 45ph mà phải dạy những nội dung trên đây. Thiết nghĩ tiết học này cần tăng thời lượng bằng 2 tiết thì mong ra giáo viên mới thiết kế bài dạy theo hướng tích cực hoá hoạt động của học sinh đạt hiệu quả cao.
* Đến với môn lịch sử lớp 8D của cô Nguyễn Thị Tuyết với bài dạy: “Trung Quốc cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX”, mỗi chúng ta càng thấy được sách giáo khoa đã soạn theo hướng tích cực hoá hoạt động của học sinh trong quá trình dạy học.
- Phần thứ nhất: “Trung Quốc bị các nước chia sẻ”- với bức tranh biếm hoạ: “Một chiếc bánh ngọt” ở giữa và các nước xung quanh: Đức, Nga, Nhật, Mỹ, Pháp để từ đó học sinh kết luận: Các cường quốc nhòm ngó, xâu xé nhau về đất nước Trung Quốc.
Giáo viên hướng dẫn các khu vực do mỗi nước đế quốc, tư bản xâu xé để các em học sinh lên trình bày. Pháp, Mỹ, Anh, Đức, Nga, Nhật đã phân chia xâu xé Quảng Tây, Quảng Đông, Phúc Kiến, khu Trường Giang, Dương Tử đến Sơn Đông đông bắc Trung Quốc.
Phần tiếp theo: “Phong trào đấu tranh của nhân dân Trung Quốc cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX” được giáo viên hướng dẫn: Nguyên nhân, diễn biến, ý nghĩa và giáo viên kết luận: “ Các phong trào trên đã lần lượt thất bại nhưng chính các phong trào này đã thúc đẩy nhân dân Trung Quốc tiếp tục đấu tranh”
- Phần cuối: “Cách mạng Tân Hợi 1911” giáo viên cho học sinh phát biểu về Tôn Văn (Tôn Nhật Tiên, Tôn Trung Sơn) và việc thành lập “Trung Quốc đồng minh hội”tại Nhật (Tháng 8-1905)
- Giáo viên hướng dẫn học sinh thảo luận về “Cuộc khởi nghĩa Vũ Sương”- Tân Hợi (tháng 10-1911)- Trung Hoa dân quốc được thành lập 12-1911 và Tôn Trung Sơn được bầu làm tổng thống. Sau đó, do sự phản bội của Viên Thế Khải mà thành quả cách mạng đã bị đánh mất và nguyên nhân sâu xa là do cách mạng chưa triệt để.
- Bài dạy này được thiết kế theo hướng tích cực hoá hoạt động của học sinh, giáo viên tận dụng các kênh hình để khai thác các sự kiện lịch sử. Học sinh chủ động thảo luận tiếp thu kiến thức.
* Môn Sinh vật với bài “Protein” do thầy Đỗ Tất Thắng thiết kế dạy- học ở lớp 9B có 2 phần cụ thể. Mỗi phần của tiết dạy- học, giáo viên đã tiến hành với nhiều phương pháp: vấn đáp, gợi mở, nêu vấn đề, tổ chức hoạt động theo nhóm để từ đó học sinh chiếm lĩnh kiến thức. Phối kết hợp giữa vấn đáp tái hiện và vấn đáp giải thích, minh họa để làm sáng tỏ từng đơn vị kiến thức “Cấu tạo và chức năng của Protein”
- Phần thứ nhất: “Cấu tạo Protein” (C,H,ON): giáo viên gợi ý về các thành phần hóa học của Protein, Protein đa dạng, đặc thù dựa vào số lượng, thành phần, trình tự acid amin. Từ một hình vẽ cấu tạo 4 bậc( bậc 1, bậc 2, bậc 3, bậc 4) giáo viên cho học sinh thảo luận, mỗi nhóm trình bày một bậc- học sinh bổ sung và giáo viên kết luận: “Nguyên tắc cấu tạo của Protein là đa phân thể hiện ở cấu trúc không gian, đa dạng, đặc thù dựa vào số lượng, thành phần và trình tự các acid amin.”
- Phần “Chức năng của Protein”, giáo viên gợi ý các nhóm thảo luận- cử nhóm trưởng lên trình bày về chức năng xúc tác, điều hòa quá trình trao đổi chất, bảo vệ cơ thể, vận chuyển và cung cấp năng lượng. Cuối cùng giáo viên kết luận: “Protein tham gia toàn bộ các quá trình hoạt động sống của tế bào- Tính trạng của cơ thể”. Giáo viên mở rộng thêm: các loại bệnh tiểu đường, bệnh Goot đều do dư Protein (N) có nhiều trong cá, thịt, rượu bia…(Nên người ta còn gọi là bệnh của nhà giàu). Giáo viên đặt ra câu hỏi để cả lớp cùng trao đổi ý kiên này. Sau khi các em có ý kiến “ Đúng , Sai”, giáo viên tiếp tục đánh giá từng ý kiên của học sinh và kết luận : “Ngày nay, căn bệnh này không chỉ là căn bệnh của người giàu mà người nghèo cũng nguy cơ mắc bệnh này .”
- Trong phần luyện tập- củng cố giáo viên nêu lại các câu hỏi vầ cấu tạo của Protein và chức năng của Protein đối với tế bào cơ thể sống. Giáo viên hệ thống lại kiến thức đã học và bổ sung từng vấn đề từ các câu trả lời của học sinh. Bài dạy được thiết kế khá hợp lý,hệ thống câu hỏi có tác động đến mọi đối tượng, tất cả các em đều tham gia bổ sung ý kiến cho nhau.
* Đế với lớp 9C , dự giờ Tiêt Hóa học với bài “ Mối quan hệ giữa các loại hợp chất vô cơ.” của cô Phạm Thị Tâm Hạnh.
- Sau phần kiểm tra bài cũ, giáo viên đã giới thiệu phần thứ nhất của bài học: “Mối quan hệ giữa các loại hợp chất vô cơ”. Bằng một sơ đồ có 5 ô chữ nhật, 1 ô giữa và 4 ô 4 góc cách độ 10cm. Từ sơ đồ trống, giáo viên yêu cầu học sinh lên điền vào các ô với các loại hợp chất vô cơ. Sau khi các em đã điền đủ và đúng vào các ô, giáo viên hướng dẫn học sinh đánh số theo thứ tự 1,2,3…9 theo quá trình phản ứng một chiều, hoặc phản ứng thuận- nghịch trong sơ đồ đã vẽ. Từ sơ đồ đã hoàn chỉnh , giáo viên kiểm tra học sinh về các hợp chất : “Muối”, “oxit bazo”, “oxit acid”, “axit”, “bazo”- Các phản ứng thuận, nghịch lần lượt được khẳng định theo sự chuyển đổi hóa học( tưg chiều mũi tên qua lại giữa các loại hợp chất vô cơ). Mỗi đơn vị hợp chất được giáo viên nêu vấn đề để học sinh trả lời về mối quan hệ giữa hợp chất đó và hợp chất được sản sinh ra trong các phương trình hóa học.
- Phần thứ hai: “Những phương trình hóa học minh họa cho mối quan hệ giữa các loại hợp chất vô cơ”. Từ sơ đồ trên, giáo viên hướng dẫn học sinh từ (1) đến(9) với các phản ứng hóa học giữa các hợp chất oxit, acit, bazo và muối
Từ 9 hợp chất vô cơ trên, giáo viên hướng dẫn học sinh hình thành sự chuyển đổi hóa học giữa các hợp chất và điều kiện cho sự chuyển đổi đó. Những hợp chất rắn, lỏng, khí có thể tác dụng với dung dịch, chất lỏng, chất rắn và có khi còn cần điều kiện nhiệt độ cao như Cu(OH)2 (rắn) ở nhiệt độ cao đã tạo ra CuO(rắn) và H2O. Qua mỗi sự chuyển đổi hóa học với các phương trình minh họa giáo viên luôn đặt câu hỏi để học sinh trả lời về các hợp chất được tạo ra- học sinh phát biểu, học sinh khác bổ sung vfa cô giáo kết luận qua từng phương trình hóa học minh họa.
- Phần luyện tập, qua bài tập 1,2 và 3, giáo viên đã chọn bài tập 3(3a,3b) để học sinh viết các phương trình hóa học cho các chuyển đổi hóa học (Fe2(SO4)3 và Cu). Mỗi tổ có một học sinh lên trình bày, cả lớp nhận xét, cô giáo kết luận.
- Nhìn chung, giáo viên đã ôn- luyện và kết hợp các phương pháp dạy học tích cực để học sinh năm được các mối quan hệ giữa các loại hợp chất vô cơ. Phần rèn luyện kỹ năng viết phương trình hóa học cho những chuyển đổi hóa học giữa các hợp chất vô cơ đã giúp cho học sinh có kỹ năng cân bằng các phản ứng hóa học và nhận rõ các chất được tạo thành ở dạng dung dịch, rắn, lỏng hay thể khí. Các nhóm thực hiện theo yêu cầu, giải quyết từng vấn đề,cân băng từng phản ứng. Những nhóm khác nhận xét, sửa chữa, bổ sung cho bạn và giáo viên đánh giá, kết luận cho từng trường hợp cụ thể. Trong 1 tiết dạy-học ,với 45 phút, thật sự khó khăn đối với cả học sinh và cô giáo khi phải giải quyết hàng loạt các phản ứng.phức tạp.Vì vậy một số ít học sinh tỏ ra lúng túng , nhưng đa số các em đã nắm đươc và thực hiện chính xác .
- Nếu được dạy học bằng giáo án điện tử, chắc chắn giáo viên bộ môn sẽ có đủ điều kiện thực hiện các bài luyện tập đầy đủ hơn và học sinh cũng dễ dàng năm bắt được mối quan hệ giữa các loại hợp chất vô cơ một cách chắc chắn hơn, cân bằng các phản ứng trên một cách tự tin hơn .
* Trong lĩnh vực Toán học thì môn Đại số là môn học có khá nhiều học sinh thích thú vì những con chữ và những con số đã giúp các em nâng cao tư duy. Nhiều em học sinh băn khoăn,lo lắng môn hình học vì nó liên quan đến những hình vẽ và các phép chứng minh nhưng lại nhanh nhạy với môn số học và đại số. Dạy bài “Chia đa thức cho một đơn thức “ thầy giáo Lê Văn Việt đã kiểm tra bài cũ bằng cách cho học sinh làm 3 bài tập: chia 1 đơn thức cho 1 đơn thức, các số chia là những đơn thức giống nhau. Sau khi học sinh giải 3bài tập, giáo viên lấy kết quả. Từ kết quả này ,giáo viên cho làm phép cộng 3phân thức có cùng mẫu số (cộng các tử-mẫu số giữ nguyên ).Hai vế
Từ những dẫn dắt trên đây, giáo viên hướng dẫn cho học sinh rút ra kết luận về cách thực hiện chia 1 đa thức chia cho 1 đơn thức ( từ một tổng của 3 phân thức cùng mẫu để tạo thành một bài toán “Đa thức chia cho một đơn thức”) .Học sinh lần lượt được phát biểu,bổ sung cho nhau.Giáo viên đánh giá từng mỗi ý kiên,từng câu phát biểu của học sinh và cuối cùng giáo viên kết luận:” Chia một đa thức cho 1 đơn thức, ta chia từng hạng tử của đa thức cho đơn thức rồi cộng lại kết quả .”
Với cách dẫn dắt đơn giản từ bài đã học để hình thành kiến thức mới,và từ kiến thức mới,học sinh được vận dụng để giải các bài tập đơn giản. Do đó, đa số học sinh đã hiểu bài khá dễ dàng cách thực hiện : chia một đa thức cho một đơn thức. Học sinh đã rút ra một qui tắc từ kết luận trên: A : B. Mỗi hạng tử của A chia hết cho B.
Tiếp đó, giáo viên cho bài tập còn lại trong sách giáo khoa để cả lớp cùng tham gia .Giáo viên theo dõi việc thực hiện của từng em và tăng cường cho học sinh hợp tác cùng nhau trng việc nhận xet kết quả học sinh thực hiện trên bảng. Nhiều học sinh tham gia sửa chữa,bổ sung cho bạn .Sau cùng, giáo viên kết luận về cách trinh bày và kết quả của phép chia đa thức cho 1 đơn thức,đánh giá kết quả.
Giáo viên kiểm tra số học sinh trong lớp đã thực hiện (1 số em) để hiểu được mức độ tiếp thu và vận dụng của học sinh trong phần kiến thức này.
Sau khi áp dụng bằng 1 bài tập đơn giản cả lớp cùng làm, giáo viên hướng dẫn học sinh luyện tập tiếp theo.
Với một bảng phụ và bài tập viết sẵn, giáo viên cho học sinh làm bài tập chọn lựa “ Đúng,Sai”. Học sinh trong các Tổ tiếp tục chọn lựa trong những câu trắc nghiệm,thảo luận và ghi ý kiến của mỗi nhóm. Đây không chỉ là bài tập để các em nhận biết mà còn giúp các em so sánh,đối chiếu với các nội dung đã học,cũng là dịp để các Tổ thi đua nhau trong phần giải đáp.Từ bài tập này, giáo viên đã phân định được khả năng nhận thức,thông hiểu và vận dụng .
Phần cuối,giáo viên đưa ra một bài tầp điền vào chỗ trống – giáo viên hướng dẫn, học sinh giải đáp và bổ sung, giáo viên kết luận trong không khí sôi nổi,hào hứng của các em.
Tóm lại,bằng nhiều phương pháp và những biện pháp khác nhau,giáo viên huy động cả lớp cùng tham gia, từ kiến thức đã học giáo viên hướng dẫn trở lại kiến thức mới,khắc sâu kiến thức và vận dụng để giải quyết một vấn đề do giáo viên đặt ra “ Đa thức chia đơn thức”
Phần luyện tập, giáo viên đã cho học sinh cả lớp làm những bài tập trong sách giáo khoa.. Học sinh cả lớp nhận xét về bài giải của học sinh trên bảng và giáo viên đã thu 4 bài của 4 học sinh khá, giỏi, trung bình, yếu của lớp để chầm điểm. Giáo viên nhận xét các bài làm của 4 học sinh và hường dẫn 1 số bài tập về nhà.
Qua tiết dạy học,chúng ta nhận thức được nhiều vấn đề về hướng tích cực hóa các hoạt động học tập của học sinh.Giáo viên đã đóng vai trò tổ chức hướng dẫn, các em lĩnh hội kiến thức trên cơ sở những kiên thức đã học một cách chủ động.Việc học tập cá thể với việc tăng cường việc học tập hợp tác luôn tạo ra động lực thi đua , nâng cao vai trò của mỗi thành viên trong lớp. Phần hướng dẫn về nhà, giáo viên định hướng về cách giải quyết của từng bài tâp để các em tự giải quyết,nâng cao năng lực tự học ở nhà.
Tóm lại việc đổi mới phương pháp dạy học: Tích cực hóa hoạt động của học sinh là một nhu cầu không thể thiếu đối với người dạy và học hiện nay,người giáo viên biết thiết kế một bài day phù hợp với đối tương,huy động nhiều học sinh tham gia, giáo viên chủ đông nhận xét đánh giá ,kết luận .Luôn tạo cho các em cơ hội tham gia giải quyết vấn đề của giáo viên nêu ra Người giáo viên phải lường trước những tình huống có thể xảy ra khi nêu vấn đề để tạo được niềm tin cho các em. Nếu có những tình huống nằm ngoài dự đoán,giáo viên phải thận trọng khi trả lời các em ,nếu cần khất lại,tuyệt đối không được trả lời mơ hồ đánh mất niềm tin nơi các em. Áp dụng phương pháp dạy học này sẽ tạo nên một lớp thầy giáo cô giáo tự tin, năng động, sáng tạo ,từ việc thiết kế bài giảng và chú trọng rèn luyện những kỹ năng tự học của học sinh cũng như rèn luyện những kỹ năng vận dụng để giải quyết vấn đề trong từng tiết học cụ thể . Hơn nữa, qua phương pháp dạy học này thầy giáo, cô giáo sẽ đánh giá học sinh và điều chỉnh cách tổ chức, sắp xếp các hoạt động của mình hợp lý hơn; người học mới phát huy được tính sáng tạo, năng động, biết cách tự học, biết đánh giá lẫn nhau trong quá trình xây dựng bài học, vừa nỗ lực học tập cá thể ,tang cường việc học tập hợp tác . Được như thế chúng ta sẽ thực hiện được mục tiêu giáo dục bậc học và đào tạo ra một thế hệ những con người, có đủ bản lĩnh ,trí tuệ và tài năng để tiếp tục sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc Việt Nam hôm nay và mai sau.
Ngày 15 tháng 5 năm 2010
NGƯỜI VIẾT
HUỲNH LIÊN
Huỳnh Tấn Linh @ 22:08 02/11/2012
Số lượt xem: 372
- TRỌN NIỀM TIN Ở MỘT NGƯỜI THẦY (02/11/12)
- GIỮ TRỌN NIỀM TIN VÀ HY VỌNG (31/10/12)




Các ý kiến mới nhất